Xây dựng mô hình rừng nhiệt đới bền vững

  07/02/2018

Xây dựng mô hình rừng nhiệt đới bền vững

                                                               Nguyễn Bá Chất - Viện NCMT Nông nhiệp Nông thôn

Hiện trạng rừng nhiệt đới

Rừng nhiệt đới được hiểu là những nơi có thảm thực vật rừng thích ứng với đai khí hậu nhiệt  đới bao gồm cả vùng Xích Đạo, vùng cận Xích Đạo và hai vùng khí hậu đới Bắc và Nam bán cầu. Được đặc trưng bởi nhiệt độ trung bình năm trên 21­C và lượng mưa hàng năm 1700mm-2500mm phân bố đều quanh năm hoặc theo mùa RNĐ có đặc trưng số lượng loài cây thân gỗ trên đơn vị diện tích cao (từ 30-40 đến 100 loài /ha) với 2-3 tầng cây gỗ, một số loài cây thân có bạnh vè, dây leo thân gỗ, một số loài cây có quả trên thân, cây phụ sinh. Tùy theo lượng mưa thường phân thành 2 kiểu rừng chính: 1 Rừng mưa nhiệt đới; 2 Rừng mưa mùa nhiệt đới.

RNĐ chiếm khoảng 1/3 diện tích rừng thế giới phân bố chủ yếu ở Nam và Trung Mỹ (600 triệu ha) ở Đông Nam Á, Australia và châu Đại Dương (300 triệu ha), châu Phi (216 triệu ha).

Ở Việt Nam rừng phân bố ở vùng thấp từ 100 m trở xuống ở Nam Bộ, từ 800-900m trở xuống ở Nam Trung Bộ, từ 600-700 m ở miền Bắc đều mang tính chât RNĐ. Rừng được phân ra các loại dựa vào nguồn gốc hình thành, hệ sinh thái rừng, giá trị sử dụng để gọi tên trong quản lý.

(TỪ ĐIỂN BÁCH KHOA NÔNG  NGHIỆP)

Rừng tự nhiên nhiệt đới tồn tại phát triển bền vững trong chiều dài lịch sử khi không bị các hoạt động kinh tế của con người tác động đến. Rừng nhiệt đới tự nhiên của Việt Nam vốn rất giàu có về tài nguyên gỗ và các sản phẩm khác từ rừng, đa dạng về loài, phong phú về cấu trúc tầng thứ. Rừng tự nhiên gìn giữ và điều hòa nguồn nước, hạn chế lũ lụt, cung cấp nhiều nhu yếu cho người dân sở tại và đất nước. Nhà nước Việt Nam đã khẳng định: “Rừng là tài nguyên quý báu của đất nước. Là bộ phận quan trọng của môi trường sinh thái, có giá trị to lớn đối với nền kinh tế quốc dân, gắn liền với đời sống của nhân dân và sự sống còn của dân tộc.” Luật Bảo vệ và phát triển rừng, 1999”. Bộ máy quản lý và phát triển rừng được thành lập từ Trung ương (bộ, Tổng cục, cục) đến tỉnh (sở, chi cục) đến huyện (hạt, ban), hệ thống sản xuất  hình thành các Liên hiệp Lâm-công-nông nghiệp, lâm trường, các ban quản lý…) Tuy vậy từ khi hệ thống tổ chức quản lý, sản xuất và pháp lý được xác lập là giai đoạn rừng tự nhiên bị tác động mạnh mẽ nhất. Dù có các quy trình quy phạm được ban hành và các giải pháp hành chính được thực thi nhưng rừng tự nhiên ngày càng xuống cấp. Sau các lần khai thác chủ rừng khó nắm thực trạng năng suất và chất lượng lâm sản thuộc diện quản lý của mình. Bởi các ông tổng giám đốc liên hiệp, ông giám đốc đương nhiệm đảm bảo hoàn thành nhiệm vụ khai thác và nuôi dưỡng rừng trên văn bản. Sản phẩm sau nhiều lần khai thác để lại là những diện tích rừng tự nhiên bị tàn kiệt, xơ xác, khó tạo nên những lâm phần có trữ lượng và chất lượng gỗ bằng những lần khai thác trước.

Lựa chọn mô hình trồng rừng nhiệt đới

Rừng trồng là rừng sản xuất từ nam ra bắc, nhà nước, tập thể là chủ nhân hầu như trồng các loài chủ yếu: keo tai tượng (Âcacia mangium Wild), keo lá tràm (Âcacia auriculiformis A.Cum), keo lai (A.mangium x A.auriculiformis), bạch đàn các loại, với những diện tích không lớn các loài cây bản địa khác. Thường trồng với mật độ 1100 cây/ha. Đối với keo lai, keo tai tượng chủ yếu cung cấp nguyên liệu gỗ dăm. Hầu hết rừng trồng đều là rừng thuần loại với chu kỳ 5-12 năm tùy nhu cầu cung cấp gỗ. Sản xuất đại trà, lượng tăng trưởng hàng năm chỉ đạt  6-9m3/ha/năm với gỗ nhỏ, doanh thu đạt 40-80 triệu đồng/ha/chu kỳ. (Báo cáo Thực trạng thị trường sản phẩm gỗ rừng trồng tỉnh Thanh Hóa, 2014.)

Ở Thung Mộ, Yên Bình, Thạch Thất, Hà Nội bà con trồng rừng keo cho biết 1 ha rừng keo 5 tuổi mật độ 1100-1600 cây bán 50 triệu đồng /ha, rừng 7 năm bán 70 triệu đồng 1ha. Bình quân chỉ đạt 10 triệu đồng/ha/năm.

Rừng keo thuần loại (keo lai, keo tai tượng, keo lá tràm) trên đất trồng rừng hiện nay chiếm một diện tích có tỷ lệ cao (chưa có con số thống kê cụ thể). Phần lớn đất trồng rừng do người dân nhận trồng cũng chưa có loài cây gì thay thế các loài cây nhập nội hiện trồng và dù sản lượng thấp nhưng vẫn đảm bảo có thu hoạch.

Những giải pháp kỹ thuật đã được đề xuất và thực nghiệm để tăng năng suất rừng keo trồng mật độ hợp lý 1100 cây/ha, hay tỉa thưa rừng hiện có chuyển đổi sang kinh doạnh gỗ xẻ. Các giải pháp tổng hợp cũng được đề ra: quản lý vật liệu hữu cơ sau khai thác, sử dụng phân bón, chuẩn bị đất trồng, quản lý cỏ dại, nguồn nước và khai thác giảm thiểu nhằm đạt được mục tiêu quản lý lạp địa bền vững. (Hội thảo quản lý rừng bền vững trồng keo và bạch đàn đa luân kỳ, 28-8-2017). Những đề xuất trên chưa được thực thi trong sản xuất và sản phẩm liệu đảm bảo tính cạnh tranh  trên thị trường trong ngoài nước.

Thực tế các tiến bộ kỹ thuật cũng như các biện pháp quản lý tiên tiến chậm được áp dụng trong thực tiễn sản xuất. Đối tượng các hộ trồng rừng với diện tích nhỏ lại càng khó tiếp cận các tiến bộ kỹ thuật. Bản thân keo các loài, bạch đàn bị giới hạn về giá trị sử dụng. Mặt khác giá cả còn chịu nhiều áp lực cạnh tranh trên thị trường. Năng suất bị hạn chế, giá cả khó so bì trong khu vực. Xoay trở kỹ thuật và quản lý bị ràng buộc trong những loài cây nhập ngoại với các vùng và quy mô sản xuất. Rừng keo hay loài cây khác trồng thuần loại với chu kỳ 5-12 năm khai thác toàn diện, sau đó trồng lại loài cây đó theo “chu kỳ chặt, trồng” khó duy trì năng suất, môi trường không được đảm bảo và các chức năng khác của rừng cũng bị hạn chế.

Những điều này cho thấy mọi phương cách nhằm nâng cao giá trị sản phẩm và môi trường là thách thức không nhỏ khi chúng ta vẫn bị cây keo và bạch đàn, kìm giữ nếp quen dễ dàng mọi mặt.

Thay đổi nếp nghĩ

Trong rừng tự nhiên của Việt Nam có hàng ngàn loài cây cho sản phẩm phục vụ nhu cầu sống của con người. Ta chưa phát huy sử được nhiều loài cây cho các sản phẩm đa dạng về mục dích sử dụng khá phong phú như: gỗ có giá trị cao, dược liệu, rau, hoa, quả rừng, dầu nhựa. Trong thực tế nhân dân đã sử dụng với quy mô nhỏ lẻ còn mang tính tự phát. Lịch sử phát triển con người đã thuần hóa động thực vật hoang dại thành những sản phẩm thông dụng như ngày nay. Rừng Việt Nam đang chờ đợi sự lựa chọn các loài cây có giá trị nhằm phục vụ đa dạng nhu cầu của hiện tại và tương lai. Đặc biệt trên những vùng đất dốc canh tác nông nghiệp hiệu quả không cao thì việc canh tác các loài động, thực vật đa dạng nhằm mở lối phát triển cho người dân sống ngoài các vùng sinh thái đồng bằng nâng cao cuộc sống và sử dụng nguồn nhân lực hiệu quả hơn.

Việc xây dựng mô hình rừng nhiệt đới tại Thung Mộ, Yên Bình, Thạch Thất, Hà Nội là trường hợp ứng dụng các giải pháp tổng hợp nhằm khai thác tiềm năng đa dạng sinh học và phát huy khả năng lao động sáng tạo của nhân dân nhằm đảm bảo và nâng cao đời sống cho mình. Đó là  sự thay đổi nhận thức và thực tiễn trong việc sử dụng tài nguyên tự nhiên có hiệu quả. Thực hiện ý tưởng xây dựng mô hình rừng nhiệt đới bền vững đầy những khó khăn. Mô hình rừng nhiệt đới bền vững mang lại lợi ích kinh tế và môi trường bền vững khi rừng trồng luôn cung cấp sản phẩm hàng năm  mà vẫn duy trì được lâm phần, không phải chặt đi trồng lại theo các luân kỳ.

Các mô hình rừng nhiệt đới bên vững được xây dựng với các loài cây bản địa có giá trị về gỗ và sản phẩm ngoài gỗ với kết cấu hỗn loài. Mỗi mô hình có ít nhất 3 loài được bố trí theo đặc tính sinh lý sinh thái phù hợp, mô phỏng theo các lâm phần rừng tự nhiên ổn định. Giá trị thu được từ những lâm phần đạt 15-20 triệu đông/ha/năm  từ sau 5-7 năm xây dựng.

Sử dụng tổng hợp các tiến bộ kỹ thuật lâm nghiệp hiện đại để kiến tạo các mô hình rừng nhiệt đới bền vững. nhằm nâng cao hiệu quả việc sử dụng tài nguyên thiên nhiên và con người một cách hợp lý và bền vững. Đây là một việc làm đầy khó khắn và đòi hỏi thời gian nhưng cũng đầy hứa hẹn

Bình luận